Sáng kiến kinh nghiệmCần chỉnh sửaMã HL0136

Nâng cao năng lực tư duy ngôn ngữ và kỹ năng giải quyết vấn đề thông qua hệ thống giải pháp hỗ trợ học sinh lớp 2 giải toán có lời văn theo định hướng Chương trình GDPT 2018

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAMĐộc lập - Tự do - Hạnh phúc ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN Kính gửi: Hội đồng thẩm định sáng kiến Tôi (chúng tôi) ghi tên dưới đây: Số TT Họ và tên Ngày tháng năm sinh Nơi công tác(hoặc nơi thường trú) Chức danh Trình độ chuyên môn Tỷ lệ (%) đó…

Xem trước

Bản xem trước · khoảng 30% đầu tài liệu

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAMĐộc lập - Tự do - Hạnh phúc

ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN

Kính gửi: Hội đồng thẩm định sáng kiến

Tôi (chúng tôi) ghi tên dưới đây:

Số TT

Họ và tên

Ngày tháng năm sinh

Nơi công tác(hoặc nơi thường trú)

Chức danh

Trình độ chuyên môn

Tỷ lệ (%) đóng góp vào việc tạo ra sáng kiến(ghi rõ đối với từng đồng tác giả, nếu có)

1

Nguyễn Thị Liễu

01/01/1986

Trường Tiểu học A Tà Đảnh

Giáo viên

Đại học

100%

2

…

Dựa trên quá trình nghiên cứu thực tiễn và tinh thần đổi mới giáo dục,

tôi (nhóm tác giả)

Xin trình đề tài sáng kiến với tiêu đề: 'Nâng cao năng lực tư duy ngôn ngữ và kỹ năng giải quyết vấn đề thông qua hệ thống giải pháp hỗ trợ học sinh lớp 2 giải toán có lời văn theo định hướng Chương trình GDPT 2018'.

Sáng kiến thuộc phạm vi chuyên môn giáo dục Tiểu học, được nghiên cứu và đưa vào thực nghiệm thực tế tại đơn vị từ ngày 27/10/2024.

Cho đến thời điểm hiện tại, các phương pháp đề xuất đã được kiểm chứng và mang lại những chuyển biến tích cực trong việc hình thành tư duy toán học cho người học."

- Mô tả bản chất của sáng kiến

1. Tình trạng của các giải pháp đã biết và hiểu rõ

Tình hình hiện tại trước khi chúng ta thực hiện giải pháp mới

Thông qua quá trình khảo sát thực tế và theo dõi hoạt động học tập của học sinh trong dạy học Toán lớp 2, tôi nhận thấy việc giải toán có lời văn của các em còn tồn tại nhiều hạn chế. Trước hết, không ít học sinh chưa hình thành thói quen đọc và phân tích kĩ đề toán; vốn từ tiếng Việt còn hạn chế khiến các em gặp khó khăn trong việc hiểu nội dung bài toán và xác định mối quan hệ giữa các dữ kiện đã cho.

Bên cạnh đó, một bộ phận học sinh chưa nắm vững các dạng toán cơ bản đã học, dẫn đến việc nhận diện dạng bài và liên hệ giữa các bài toán còn thiếu chính xác, gây lúng túng khi lựa chọn phép tính phù hợp. Trong quá trình làm bài, nhiều em chưa mạnh dạn đề xuất cách giải, còn phụ thuộc vào sự gợi ý của giáo viên và thiếu tự tin trong tư duy toán học.

Ngoài ra, học sinh thường ít chú trọng đến bước kiểm tra lại lời giải; nhiều em cho rằng việc hoàn thành phép tính và tìm được đáp số đồng nghĩa với việc đã giải xong bài toán, nên dễ mắc lỗi sai mà không kịp thời phát hiện.

Về phía giáo viên, trong thực tế giảng dạy môn Toán, một số bước quan trọng của quy trình giải toán như: tìm hiểu đề, phân tích dữ kiện, kiểm tra và đánh giá lại kết quả đôi khi chưa được thực hiện đầy đủ hoặc chưa được chú trọng đúng mức. Việc rèn luyện kĩ năng giải toán có lời văn cho học sinh vì thế chưa đạt hiệu quả như mong muốn.

Những hạn chế nêu trên là các nguyên nhân chủ yếu ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng học tập môn Toán của học sinh tiểu học. Do đó, việc nghiên cứu và đề xuất các biện pháp dạy học phù hợp nhằm khắc phục những tồn tại này là yêu cầu cấp thiết, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, đáp ứng mục tiêu phát triển phẩm chất và năng lực học sinh theo Chương trình GDPT 2018.

* Những việc chưa làm được:

- Đối với giáo viên: Thông qua việc quan sát thực tế tiết dạy của đồng nghiệp cũng như trải nghiệm đứng lớp trong năm học vừa qua, tôi nhận thấy quy trình hướng dẫn giải toán có lời văn vẫn còn tồn tại một số bất cập, chưa thực sự sát với năng lực tư duy của trẻ lớp 2. Đôi khi, phương pháp truyền đạt và cách đặt vấn đề của giáo viên còn thiếu sự mạch lạc, gây rào cản cho học sinh trong việc nắm bắt nội dung bài học.

Hơn nữa, một bộ phận giáo viên vẫn duy trì lối dạy học thụ động, quá chú trọng vào việc cung cấp các "mẫu số chung" để học sinh rập khuôn theo. Việc giảng dạy theo kiểu đọc đề, nhìn sách và gợi ý hời hợt khiến trẻ không nắm vững được bản chất của việc lựa chọn phép tính hay logic giữa các con số. Hệ quả là học sinh không thể tự mình xây dựng quy trình giải toán một cách khoa học, dẫn đến việc ghi nhớ kiến thức chỉ dừng lại ở mức bề nổi và rất dễ mắc lỗi khi gặp các dạng đề biến tấu.

- Đối với học sinh: Đối với các em học sinh lớp 2, các dạng bài toán

"nhiều hơn - ít hơn" vẫn là một thử thách lớn do các em mới chỉ ở bước đầu tiếp cận với tư duy toán học ngôn ngữ. Sự hạn chế về vốn từ vựng cùng khả năng phân tích logic còn non nớt khiến việc chuyển hóa ngôn ngữ viết thành tư duy toán học trở nên khó khăn.

Trên thực tế, tính tự giác và kỹ năng tự học của nhiều em chưa cao, phần lớn vẫn phụ thuộc vào sự điều phối của giáo viên. Có những trường hợp học sinh tính toán rất nhanh và chính xác nhưng lại hoàn toàn bế tắc khi phải diễn đạt bằng câu chữ hoặc giải thích ý nghĩa của phép tính mình vừa thực hiện.

Các kỹ năng quan trọng như tóm tắt đề bài, bóc tách dữ kiện hay trình bày lời giải một cách có hệ thống vẫn chưa được hình thành rõ nét. Phần lớn học sinh đang học theo lối mòn, ghi nhớ máy móc các dạng bài tương tự thay vì hiểu bản chất, dẫn đến việc nhầm lẫn giữa dữ liệu đã cho và yêu cầu cốt lõi của bài toán.

Trong quá trình trực tiếp đứng lớp và theo sát tình hình học tập của tập thể 2A4 (năm học 2024 - 2025), tôi đã tiến hành đo lường chất lượng giải toán có lời văn của các em vào giữa học kỳ I (tháng 11/2024). Dưới đây là bảng tổng hợp các chỉ số đạt được, phản ánh thực trạng kỹ năng giải toán của học sinh tại thời điểm khảo sát:

Lớp

Sĩ số

Học sinh

làm bài tốt

Học sinh làm đúng các phép tính và sai lời giải (Hoặc lời giải đúng, phép tính sai)

Học sinh còn thiếu xót trong bài, chưa giải được cả phép tính và đưa ra lời giải.

2A4

23 em

SL

TL

SL

TL

SL

TL

5

21,7%

8

34,8%

10

43,4%

Kết quả khảo sát lần 1 (tháng 11/2025) Lớp 2A4 năm học 2025 – 2026

Lớp

Sĩ số

Học sinh

làm bài tốt

Học sinh làm đúng phép tính, sai lời giải (Hoặc lời giải đúng, phép tính sai)

Học sinh chưa hiểu cách làm bài giải, làm sai cả phép tính và lời giải.

2A4

22 em

SL

TL

SL

TL

SL

TL

3

13,6%

8

36,4%

11

50%

Dựa trên các số liệu thống kê thu được, tôi nhận thấy một bộ phận không nhỏ học sinh vẫn còn lúng túng dẫn đến sai sót trong việc thiết lập lời giải và thực hiện phép tính. Cụ thể, tại lớp 2A4 niên khóa 2024 - 2025, có 5 trên tổng số 23 học sinh chưa đạt yêu cầu (tương đương 21,7%). Sang năm học 2025 - 2026, con số này ở lớp 2A4 là 3 em trên sĩ số 22 (chiếm 13,6%). Đáng chú ý, phần lớn những trường hợp học sinh chưa hoàn thành chương trình môn Toán đều tập trung vào mảng kiến thức về giải toán có lời văn.

Sự cần thiết của sáng kiến

1. Đặc điểm tâm sinh lý và bối cảnh giáo dục : Học sinh lớp 2 đang ở những bước chân đầu tiên của bậc tiểu học, độ tuổi mà sự hiếu kỳ và mong muốn tìm tòi luôn song hành cùng tâm lý dễ xao nhãn. Các em thường hào hứng với cái mới nhưng cũng mau chóng đánh mất sự tập trung nếu nội dung bài giảng thiếu sức hấp dẫn. Đặc biệt, trong năm học 2024 – 2025 – giai đoạn tiếp tục triển khai sâu rộng Chương trình GDPT 2018 – việc xây dựng niềm yêu thích và cải thiện hiệu quả học tập môn Toán trở thành một nhiệm vụ then chốt, mang tính chiến lược đối với mỗi giáo viên.

2. Những thách thức trong mạch kiến thức "Giải toán có lời văn": Từ thực tiễn đứng lớp, tôi nhận thấy rằng trong hệ thống chương trình Toán lớp 2, nội dung liên quan đến giải toán có lời văn chính là "rào cản" lớn nhất đối với học sinh. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ sự hạn hẹp trong vốn từ vựng, khả năng đọc hiểu và tư duy logic của các em còn đang trong quá trình hình thành. Nhiều học sinh vẫn duy trì thói quen học tập thụ động, thiếu kỹ năng tự nghiên cứu, dẫn đến tốc độ xử lý các bài toán định tính thường chậm hơn hẳn so với các dạng toán thuần túy về con số.

Một thực trạng phổ biến là có những em dù thực hiện phép tính rất chính xác nhưng lại hoàn toàn bế tắc khi phải giải thích ý nghĩa của con số đó hoặc diễn đạt bằng ngôn từ. Các em rơi vào trạng thái lúng túng khi phải tự mình bóc tách dữ kiện, chưa hình thành được kỹ năng tóm tắt hay phân tích để tìm ra hướng giải quyết khoa học. Cách trình bày của học sinh thường rời rạc, thiếu sự liên kết logic và chưa chặt chẽ về mặt ngôn ngữ.

3. Nỗi trăn trở về kỹ năng đặt lời giải : Trên thực tế, việc hướng dẫn học sinh xây dựng câu lời giải đôi khi còn gian nan hơn cả việc dạy các em tính toán. Khó khăn này nảy sinh từ việc các em mới chỉ dừng lại ở mức độ "đọc chữ" chứ chưa thực sự "thấu hiểu" bản chất vấn đề, dẫn đến việc phản hồi các câu hỏi gợi mở của giáo viên còn hạn chế. Hệ quả là khi trình bày bài giải, các em thường bỏ trống lời giải, viết câu không đúng cấu trúc hoặc diễn đạt thiếu hàm súc.

Đây là lí do mà tôi chọn đề tài: “Một số biện pháp giải toán có lời văn theo chương trình giáo dục phổ thông 2018 cho học sinh lớp 2”. Xuất phát từ những trăn trở trong thực tiễn giảng dạy, tôi luôn tâm niệm việc tìm kiếm và ứng dụng các phương pháp đổi mới nhằm tối ưu hóa kỹ năng xử lý toán có lời văn cho học sinh. Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu này không chỉ dừng lại ở việc cải thiện chất lượng học tập cho học sinh lớp 2 tại thời điểm hiện tại, mà xa hơn là xây dựng một nền tảng tư duy ngôn ngữ và logic vững chắc.

2. Nội dung giải pháp đề nghị công nhận là sáng kiến:

Việc triển khai nghiên cứu này trước hết nhằm giúp bản thân tôi cùng đội ngũ giáo viên nắm vững hệ thống lý luận khoa học và đánh giá chính xác thực trạng kỹ năng giải toán có lời văn của học sinh lớp 2 trong bối cảnh giáo dục hiện đại. Thông qua đề tài, tôi mong muốn tạo ra một không gian trao đổi chuyên môn tích cực, cùng đồng nghiệp đúc kết những chiến lược giảng dạy tối ưu. Mục tiêu cuối cùng là định hình các phương pháp sư phạm đột phá để nâng cao năng lực giải toán cho học sinh lớp 2, từ đó tạo tiền đề vững chắc cho việc cải thiện chất lượng giáo dục môn Toán trên toàn bậc Tiểu học.

Về phía người học, giải pháp hướng tới việc giúp các em làm chủ kỹ năng xử lý các dạng toán có lời văn một cách nhuần nhuyễn. Đặc biệt, nghiên cứu tập trung vào việc hỗ trợ học sinh vận dụng linh hoạt các phép tính nhân, chia vào việc giải quyết các bài toán thực tế cũng như các tình huống phát sinh trong đời sống thường ngày. Bên cạnh việc bồi dưỡng năng lực tư duy logic, giải pháp còn góp phần nuôi dưỡng tâm hồn, hình thành thái độ học tập tích cực và khơi gợi niềm đam mê khám phá tri thức thông qua việc đọc sách và nghiên cứu toán học.

Còn 232 đoạn nữa chỉ có trong bản đầy đủ. Mua để tải file Word.

  • Định dạngDOCX
  • Trạng tháiCần chỉnh sửa
  • Quyền dùngKhông thời hạn

Mô tả

Dùng cho ai
Giáo viên tham khảo, học hỏi kinh nghiệm
Mục tiêu
Cấp học / lớp / môn
Tiểu học · Lớp 2 · Dùng chung / khác
Chủ đề
Định dạng
DOCX
Thiết bị, phần mềm
Máy tính có Microsoft Word hoặc Google Docs

Bên trong có gì

    Cách sử dụng

    • Bấm Tải để lưu file Word về máy
    • Đọc, tham khảo và điều chỉnh theo thực tế trường lớp
    • File có watermark kèm email tài khoản – không chia sẻ công khai

    Phạm vi quyền dùng: Dùng cho cá nhân giáo viên tham khảo; không bán lại hay chia sẻ công khai.

    Cập nhật

    Tác giả
    Th.s Khắc Trường
    Phiên bản
    2
    Ngày cập nhật
    03/11/2026